ItruyenChu Logo

[Dịch] Công Nghiệp Hoá Lãnh Chúa

Chương 33. Một tòa thành Wesson mang theo kiêu ngạo và hy vọng

Chương 33: Một tòa thành Wesson mang theo kiêu ngạo và hy vọng

Việc chuyển muối xuống thuyền diễn ra rất nhanh chóng. Xe ngựa ở nơi này có tải trọng lớn gấp đôi những vùng khác nhưng tốc độ di chuyển không hề chậm, lại cực kỳ vững chãi.

Cạnh bến tàu có khu vực chuyên thu mua muối của địa phương. Nhân viên công tác ngẫu nhiên rút lấy vài thùng hàng, dùng ống đong hình nón đo lường một lượng muối nhất định rồi thêm nước vào hòa tan toàn bộ. Sau khi để nước muối lắng xuống một lát, các tạp chất sẽ đọng lại dưới đáy ống đong. Nhóm muối này chất lượng rất tốt, được xếp vào hàng nhất phẩm. Vì thùng gỗ được bán riêng nên việc đổ muối ra để kiểm tra khối lượng và chuyển sang vật chứa khác đã tiêu tốn thêm chút thời gian.

Khi hai bên ký kết hợp đồng, chủ hàng chỉ vào một điều khoản rồi thắc mắc: "Cái tem thuế này là thế nào? Những nơi khác ta chưa từng nghe nói qua."

Lão môi giới lập tức giải thích: "Đây là một loại thuế giao dịch do tiểu thiếu gia nhà chúng ta ban hành sau khi đương gia. Cứ dựa theo tỉ lệ giá trị hợp đồng mà mua thuế phiếu rồi dán lên trên. Nếu sau này có xảy ra kiện cáo, tòa án sẽ ưu tiên công nhận những hợp đồng có dán thuế phiếu làm bằng chứng."

"Nếu nộp thêm một ít tiền thuế, cục thuế còn giúp bảo quản bản sao hợp đồng từ một tháng đến tận năm mươi năm. Cho dù quá thời hạn, người ta vẫn có thể tra cứu sổ đăng ký để biết tên tuổi đôi bên, chủng loại, số lượng hàng hóa cũng như giá trị giao dịch là bao nhiêu."

Chủ hàng lập tức hiểu ra, gật đầu tán thưởng: "Phương pháp này hay thật, nếu phải đối chất trước tòa thì thuận tiện hơn nhiều."

"Đúng vậy." Lão môi giới cười nói, "Đến lúc chúng ta thu tiền hoa hồng cũng chẳng cần phải tranh cãi dây dưa."

Armand đứng bên cạnh, cầm một tấm thuế phiếu lên nghiên cứu. Đó là một mảnh vải bông nhỏ màu trắng, bên trên in hình hoa tường vi đỏ và dây leo xanh, phía dưới ghi rõ năm tháng, có thể quét hồ dán trực tiếp lên giấy da dê. Hắn trầm tư suy nghĩ, loại thuế suất này tuy không cao nhưng nguồn thu lại cực kỳ rộng lớn, các thương nhân cũng rất sẵn lòng chi trả, tính ra thu nhập một năm chắc chắn không hề nhỏ. Nghĩ đến đây, trong lòng hắn không khỏi nảy sinh sự hiếu kỳ đối với Frederick.

Bán xong muối và thùng gỗ, họ tiếp tục đi tiêu thụ số hạt đậu. Khi đi ngang qua ven thành, Armand đột nhiên phát hiện trên bãi cỏ dưới chân tường thành có rất nhiều trẻ con. Những đứa trẻ này nhỏ thì mới hơn ba tuổi, lớn thì chừng mười tuổi, chia thành từng nhóm mười mấy đứa ngồi vây quanh trên cỏ. Mỗi nhóm đều đội một loại mũ màu sắc khác nhau, có một người lớn đứng giữa dạy chúng nhận biết sự vật, tập đếm, hát đồng dao, nhóm lớn hơn còn được học chữ và tính toán.

Armand kinh ngạc hỏi: "Chúng là con cái nhà ai vậy?"

Lão môi giới hớn hở đáp: "Đều là trẻ con ở vùng này cả. Thằng nhóc nhà tôi cũng ở kia kìa, ngài nhìn xem, chính là đứa mặc áo xanh, đội mũ trắng ngồi cạnh cái bảng màu hồng ấy."

Armand nhìn thấy cậu bé chừng năm tuổi nọ đang cùng các bạn đặt hai tay lên đầu giả làm tai thỏ, vừa nhảy vừa hát: "Đàn thỏ con trên đồng cỏ nhảy nhót, đôi tai dài vui sướng lắc lư theo nhịp điệu."

Hắn mỉm cười nói: "Thật thú vị."

Lão môi giới tiếp lời: "Cách đây không lâu, ngài Bast mới mở xưởng, vì thiếu nhân thủ nên định tuyển thêm phụ nữ vào làm việc. Nhưng ngặt nỗi các bà nội trợ đều phải ở nhà trông con, thế là ngài Bast nghĩ ra cách để vị hôn thê của mình lập ra nhà trẻ này. Nhờ vậy, phụ nữ không còn bị vướng bận chuyện con cái, có thể rảnh tay ra ngoài làm lụng."

"Chuyện này vừa truyền ra được hai ngày, nhà tôi đã bàn bạc rồi quyết định gửi con vào đây. Nhà nội tôi vốn là thợ may, trước đây vì trông con mà chẳng làm được việc gì mấy. Nay chỉ mất một ít tiền phí gửi trẻ, bà ấy có thể đến tiệm may làm việc, mỗi tháng trong nhà lại có thêm mấy đồng bạc sáng lấp lánh."

"Sáng ra tôi đưa con đến đây rồi mới ra bến tàu, chiều tối nhà tôi tan làm thì đón nó về, trên đường tiện tay mua mấy cái bánh màn thầu, tôi về nhà nấu xong nồi canh là cả nhà có cơm ăn ngay."

Lão chỉ tay về phía công trình đang xây dựng: "Chỗ kia tương lai sẽ là tòa nhà của nhà trẻ, giờ bọn nhỏ vẫn phải sinh hoạt tạm trong lều lớn. Thằng nhóc nhà tôi chắc không kịp ở nhà mới rồi, nhưng nghe nói tiểu lão gia dự định trong hai năm tới sẽ mở thêm nhiều trường học, trẻ em trên sáu tuổi đều phải đi học chữ và làm tính."

"Đứa nào có tiền đồ thì vào đại học lâu đài Wesson mà học ma pháp, không đi học được thì vào trường nghề của công hội để học lấy cái nghề lận lưng..."

Armand chợt nhận ra, trong những lời kể lể dông dài của lão môi giới ẩn chứa một niềm kiêu hãnh và hy vọng mãnh liệt vào tương lai. Cảm giác này hắn không hề xa lạ. Trước đây, khi còn ở trường quân sự, hắn cùng bạn học thường uống rượu tán gẫu về viễn cảnh tương lai, họ cũng đầy tự hào và tự tin như thế.

Nhưng họ vốn là con em quý tộc. Cha của hắn là sủng thần của Quốc vương, cha đỡ đầu là Thống chế vùng Gaul, những gia đình khác cũng không phú thì quý, ai nấy đều có tiền đồ xán lạn. Còn lão môi giới này, một người bình dân không võ lực, không tài sản, cũng chẳng có địa vị, thì cái "tương lai xán lạn" kia trông như thế nào mà khiến lão phải kiêu ngạo đến vậy? Armand không tài nào thấu hiểu nổi.

Đoàn xe chở hạt đậu nhanh chóng tiến đến xưởng xay xát bên bờ sông. Lão môi giới tiến lại bàn bạc với quản sự và chủ hàng, sau khi nghiệm hàng và cân đo thì ký kết hợp đồng. Trong lúc xe ngựa tháo hàng được một môi giới khác điều đi, Armand cùng mọi người tiến về phía thương hội Yelena cách đó không xa. Hắn đặc biệt lưu ý những guồng nước dọc đường, phát hiện chúng quay rất nhanh.

Lúc này đã gần trưa, thời tiết oi bức khiến ai nấy đều vã mồ hôi. "Thương hội Yelena" là tên gọi thân thuộc, thực chất bảng hiệu ở cổng chính ghi là "Xưởng đường Yelena", kèm theo biểu tượng một con thỏ trắng. Nơi này trông có vẻ đơn sơ, đa số phòng ốc đều mới dựng hoặc còn đang thi công dở dang. Tuy nhiên, không khí lại cực kỳ náo nhiệt, xe ngựa ra vào nườm nượp khiến người ta phải đứng ra chỉ dẫn giao thông.

Khu nhà bên cạnh cổng chính làm Armand mở mang tầm mắt. Dãy nhà gỗ này hướng ra đường nhưng không có tường bao, phía sau sát bờ sông có lắp đặt mấy guồng nước. Bên trong nhà chỉ có những hàng cột chống, bày biện rất nhiều bàn ghế cho mọi người ngồi ăn uống và trò chuyện. Đoạn gần xưởng đường có một quầy hàng, khói trắng bốc lên nghi ngút.

Điều đáng chú ý nhất là trên tường có lắp đặt những cánh quạt được dẫn động bởi guồng nước, chúng thổi gió qua một màn nước, mang theo hơi lạnh từng trận xua tan cái nóng ngày hè. Sau khi Armand và mọi người ngồi xuống, lão môi giới gọi nhân viên nghiệp vụ của xưởng đường tới cùng mấy phần "Băng Thủy Tinh".

"Đây là món gì?" Armand nhìn bát chè lạnh đang bốc hơi hàn khí, hắn chưa từng thấy món này bao giờ.

Đây chính là món chè thạch Agar mà Frederick đã mày mò ra. Thạch được cắt thành khối nhỏ, phối hợp với nước đường mạch nha ướp lạnh, trở thành món giải khát cực phẩm tại lâu đài Wesson trong mùa hè này.

Lão môi giới cười nói: "Trời nóng thế này, ăn một bát Băng Thủy Tinh là tỉnh cả người, đây cũng là món do tiểu lão gia phát minh ra đấy."

Armand chỉ vào người nhân viên nghiệp vụ đối diện, hỏi: "Vậy tại sao anh ta lại không có?"

Người nhân viên mỉm cười lắc đầu: "Chúng tôi có quy định, không được phép ăn đồ khách hàng mời."

Armand gật đầu, múc một miếng nếm thử. Cảm giác lành lạnh, thanh ngọt, hương vị rất khó tả nhưng vô cùng sảng khoái. Ngay cả trong vương cung, hắn cũng chưa từng được thưởng thức món nào thú vị như vậy.

Bát Băng Thủy Tinh còn chưa ăn hết, việc đổi hạt đậu lấy nước đường Wesson đã thỏa thuận xong, hẹn ba ngày sau nhận hàng. Lão môi giới nhận tiền hoa hồng xong định rời đi, nhưng Armand đã lên tiếng: "Chiều nay ta muốn đi xem vật liệu thép, ngươi dẫn đường cho ta nhé."

"Được chứ!" Lão môi giới cười rạng rỡ. Buôn bán sắt thép là đại sự, tiền hoa hồng chắc chắn sẽ rất hời.

Lão lập tức gọi cơm trưa, bưng lên cho khách hàng những phần bánh màn thầu thêm muối thượng hạng cùng thịt chân giò hầm dưa chua, còn trước mặt mình chỉ là bát dưa chua cùng loại bánh ngũ cốc thô rẻ tiền nhất. Những người khách đến từ vương quốc Gaul cầm chiếc màn thầu lên nghiên cứu một hồi lâu rồi mới bắt chước cách ăn bánh mì, cắt thành từng lát nhỏ để thưởng thức.

Armand liếc nhìn bảng giá treo trên cột, không nhịn được hỏi lão môi giới: "Thu nhập hôm nay của ngươi cũng khá, sao lại vẫn ăn loại rẻ nhất thế này?"

Lão môi giới cười đáp: "Nghe giáo viên ở nhà trẻ bảo thằng nhóc nhà tôi thông minh lắm. Nhà tôi quyết định chắt bóp một chút, nếu nó thực sự có khiếu thì sẽ dành tiền gửi nó vào đại học lâu đài Wesson, học phí ở đó không hề thấp đâu."

Armand thấy lão già này làm việc thuần thục, lanh lẹ lại khéo ăn khéo nói, có ý muốn nâng đỡ một tay nên bảo: "Đến lúc đó ngươi có thể đến thành Paris tìm ta, ta tin là với thư giới thiệu của mình, Nam tước Wesson sẽ nể mặt."

Lão môi giới ngẩn người, rồi lắc đầu: "Tiểu lão gia nói rồi, đại học Wesson không xem thư giới thiệu này nọ, chỉ nhìn vào điểm thi thôi."

Armand không thể hiểu nổi điều đó. Nhưng hắn đã hiểu được một chuyện: Tại sao người đàn ông này lại tràn đầy hy vọng vào tương lai đến thế.