Chương 3: Người xứ khác
"Ta là một kẻ thất bại, hầu như chẳng mấy khi chú ý ánh mặt trời có rực rỡ hay không, bởi vì ta không có thời gian.
Cha mẹ ta không thể hỗ trợ gì cho ta, trình độ của ta cũng chẳng cao, chỉ có thể lẻ loi một mình giữa thành phố tìm kiếm tương lai.
Ta đã tìm rất nhiều công việc nhưng đều bị từ chối. Có lẽ chẳng ai ưa thích một kẻ không giỏi ăn nói, ngại giao tiếp, cũng chẳng thể hiện được năng lực xuất chúng như ta.
Suốt ba ngày trời ta chỉ có hai ổ bánh mì lót dạ. Cơn đói khiến ta trằn trọc không sao ngủ được mỗi khi đêm về. May mắn thay, ta đã đóng trước một tháng tiền nhà nên vẫn có thể tiếp tục tá túc trong căn hầm tối tăm ấy, không phải ra ngoài hứng chịu những cơn gió đông lạnh thấu xương.
Cuối cùng, ta cũng tìm được việc. Đó là gác đêm tại bệnh viện, chính xác hơn là trông coi nhà xác.
Ban đêm ở bệnh viện còn lạnh hơn ta tưởng. Đèn tường dọc hành lang không được thắp sáng, khắp nơi đều tối tăm âm u, ta chỉ có thể nương theo chút ánh sáng hắt ra từ các phòng bệnh để thấy đường dưới chân.
Mùi vị ở đó rất khó ngửi. Thỉnh thoảng lại có người chết được bọc trong túi vải đưa tới, chúng ta phải phối hợp chuyển họ vào trong phòng chứa.
Đây chẳng phải một công việc tốt lành gì, nhưng ít nhất nó giúp ta mua được bánh mì. Thời gian rảnh ban đêm ta có thể dùng để học tập, dù sao cũng chẳng ai muốn bén mảng tới nhà xác, trừ phi cần đưa thi thể đến hoặc chuyển đi hỏa táng. Tất nhiên, ta vẫn chưa có đủ tiền mua sách, và hiện tại cũng chẳng thấy hy vọng dành dụm được đồng nào.
Ta phải cảm ơn người đồng nghiệp tiền nhiệm. Nếu hắn không đột ngột từ chức, có lẽ ta đã chẳng thể nhận được công việc này.
Ta từng mơ ước có thể đổi sang trực ban ngày. Hiện tại ta luôn phải ngủ lúc mặt trời mọc và chỉ thức dậy khi đêm đã gần kề, điều đó khiến cơ thể ta trở nên suy nhược, đôi khi đầu óc còn đau nhức từng cơn.
Một ngày nọ, nhân viên vận chuyển đưa tới một thi thể mới.
Nghe họ nói, đó chính là người đồng nghiệp cũ đã đột ngột từ chức của ta.
Ta nảy sinh lòng hiếu kỳ. Sau khi mọi người rời đi, ta kéo ngăn tủ ra, lặng lẽ mở túi đựng xác.
Hắn là một lão già, gương mặt lúc xanh lúc trắng, chằng chịt nếp nhăn, dưới ánh đèn mờ ảo trông vô cùng đáng sợ.
Tóc hắn thưa thớt, phần lớn đã bạc trắng. Quần áo trên người hắn bị lột sạch, chẳng còn lại lấy một mảnh vải che thân. Đối với những người chết không thân thích thế này, đám nhân viên vận chuyển chắc chắn sẽ không bỏ qua cơ hội kiếm chác thêm một món hời.
Ta chợt thấy trên lồng ngực hắn có một ấn ký kỳ quái màu xanh đen. Hình dáng cụ thể thế nào ta không thể mô tả được, bởi lúc ấy ánh đèn quá đỗi tối tăm.
Ta đưa tay chạm vào ấn ký đó, chẳng thấy có gì đặc biệt. Nhìn vị tiền nhiệm này, ta chợt nghĩ, nếu ta cứ tiếp tục sống thế này cho đến lúc già đi, liệu ta có kết thúc giống như hắn hay không...
Ta nói với hắn rằng ngày mai ta sẽ cùng hắn tới lò hỏa táng, tự tay đưa tro cốt của hắn đến nghĩa trang miễn phí gần nhất, tránh để những kẻ phụ trách vì ngại phiền phức mà tùy tiện ném xác xuống sông hay ngoài đồng hoang.
Việc này sẽ khiến ta mất đi một buổi sáng ngủ bù, nhưng cũng chẳng sao, sắp đến Chủ nhật rồi, ta có thể ngủ bù sau.
Nói xong những lời đó, ta chuẩn bị lại túi xác rồi đẩy hắn vào ngăn tủ. Ánh đèn trong phòng dường như lại tối đi vài phần...
Kể từ ngày đó, mỗi khi chìm vào giấc ngủ, ta đều mơ thấy một vùng sương mù dày đặc.
Ta linh cảm rằng chẳng bao lâu nữa sẽ có chuyện xảy ra. Ta dự cảm sớm muộn gì cũng có những thứ không biết có nên gọi là người hay không đến tìm mình. Chẳng ai chịu tin lời ta cả, họ cho rằng làm việc trong môi trường như vậy khiến tinh thần ta bất ổn, cần phải đi gặp bác sĩ tâm thần..."
Ngồi tại quầy bar, một vị khách nam nhìn về phía người thanh niên vừa đột ngột ngừng lời, hỏi:
"Sau đó thì sao?"
Vị khách này khoảng hơn ba mươi tuổi, mặc áo khoác len thô màu nâu và quần dài vàng nhạt, mái tóc được chải chuốt rất phẳng phiu, trên tay cầm một chiếc mũ dạ sẫm màu đơn giản.
Trông hắn hết sức bình thường, giống như đại đa số người trong quán rượu: tóc đen, mắt xanh nhạt, ngũ quan không đẹp cũng chẳng xấu, thiếu hẳn những nét đặc trưng nổi bật.
Trái lại, người kể chuyện trong mắt hắn là một thanh niên tầm mười tám, mười chín tuổi, dáng người thẳng tắp, tứ chi thon dài. Dù cũng sở hữu mái tóc đen ngắn và đôi mắt xanh nhạt, nhưng ngũ quan của y lại vô cùng sắc sảo, khiến người ta vừa nhìn đã thấy ấn tượng.
Chàng thanh niên nhìn chiếc ly không trước mặt, thở dài:
"Sau đó ư? Sau đó ta từ chức về quê, tới đây để bốc phét với ngươi chứ sao."
Nói đoạn, trên mặt y hiện lên nụ cười đầy vẻ ranh mãnh. Vị khách nam nọ sững sờ:
"Ngươi vừa kể những chuyện đó... đều là bốc phét sao?"
"Ha ha!" Chung quanh quầy bar bỗng bùng lên một trận cười rộ.
Tiếng cười vừa dứt, một trung niên gầy gò nhìn vị khách đang lúng túng kia, lên tiếng:
"Người xứ khác, ngươi lại đi tin lời Lumian sao? Chuyện hắn kể mỗi ngày mỗi khác, ngày hôm qua hắn còn là một kẻ xui xẻo bị vị hôn thê hủy hôn vì nghèo, hôm nay đã biến thành người gác xác rồi!"
"Đúng thế, nào là ba mươi năm ở phía đông sông Sorenzo, ba mươi năm ở bên phải sông Sorenzo, toàn là lời nói nhảm!" Một khách quen khác phụ họa.
Họ đều là nông dân ở thôn Cordu này, khoác trên mình những chiếc áo vest cũ kỹ màu đen, xám hoặc nâu.
Người thanh niên tóc đen tên Lumian dùng hai tay chống lên quầy bar, chậm rãi đứng dậy, cười tủm tỉm nói:
"Các người cũng biết đấy, đây không phải chuyện ta tự biên tự diễn, đều là chị ta viết cả. Chị ấy thích viết lách nhất, còn là cộng tác viên cho chuyên mục của tờ 'Tiểu thuyết báo tuần' đấy."
Nói xong, y hơi nghiêng người, xòe tay với vị khách phương xa, cười rạng rỡ:
"Xem ra chị ấy viết cũng khá thật, làm ngươi hiểu lầm rồi, thành thật xin lỗi nhé."
Người đàn ông mặc áo khoác nâu không hề tỏ ra giận dữ, hắn mỉm cười đáp lại:
"Một câu chuyện rất thú vị. Ta nên xưng hô với ngươi thế nào?"
"Hỏi tên người khác mà không tự giới thiệu trước là thiếu phép tắc lắm đấy." Lumian cười đáp.
Vị khách xứ khác gật đầu:
"Ta tên Ryan Koss. Hai vị này là bạn đồng hành của ta, Valentine và Leah."
Hắn vừa nói vừa chỉ về phía một nam một nữ đang ngồi cạnh bên. Người nam chừng hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, mái tóc vàng hơi ngả sắc phấn, đôi mắt xanh thẫm hơn màu nước hồ một chút. Hắn mặc áo lót trắng, khoác jacket xanh và quần dài đen, trông vô cùng bảnh bao, rõ ràng là đã chải chuốt kỹ lưỡng trước khi ra cửa. Thần sắc hắn có chút lạnh lùng, chẳng thèm liếc mắt nhìn đám nông dân và mục dân xung quanh.